fbpx

Biến chứng thận ở bệnh nhân Đái tháo đường

 Bệnh thận đái tháo đường là một biến chứng tiểu đường nguy hiểm, có thể dẫn tới xơ hóa thận, suy thận, chạy thận nếu không được phòng ngừa và điều trị sớm. Đây cũng được coi là một trong nhưng biến chứng gây hậu quả nguy hiểm nhất và tốn kém nhất cho người bệnh.

Bệnh thận đái tháo đường – Nguyên nhân, Triệu chứng và các giai đoạn phát triển bệnh

Bệnh thận đái tháo đường hay hội chứng Kimmelstiel Wilson là tên gọi chung cho tình trạng suy giảm chức năng thận có nguyên nhân từ đái tháo đường. Theo Dantri.com.vn

Hiện nay suy thận đứng vị trí thứ 9 trong các nguyên nhân gây tử vong ở các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê nước Mỹ năm 2008 có tới 3 triệu người sử dụng phương pháp thay thế thận trong đó có 30-40% là bệnh nhân đái tháo đường. Tại Singapore năm 2000 có khoảng 50% số bệnh nhân suy thận mãn tính có nguyên nhân do đái tháo đường.

Ở Việt Nam thì chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng lượng bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn cuối là 800,000 người và con số này đang không ngừng gia tăng.

Nguyên nhân gây bệnh thận đái tháo đường

Thông thường, máu lưu thông vào thận thông qua các động mạch thận.Trong đó có vô vàn các mạch máu li ti và cuối cùng tập trung tại các búi nhỏ gọi là cầu thận. Ở người đái tháo đường, đặc biệt đái tháo đường type 2, đường huyết tăng cao kéo dài sinh ra nhiều chất oxy hóa làm các mao mạch ở cầu thận bị tổn thương.

Đồng thời, lượng đường trong máu cao vượt quá ngưỡng đường của thận cũng khiến cơ quan này phải hoạt động quá mức. Sau một thời gian, các lỗ lọc trở nên to hơn làm albumin(một loại protein do gan tạo ra) bị lọt ra ngoài và ảnh hưởng đến chức năng thận. Tình trạng xấu đi khi mức albumin tăng.

Nếu không được điều trị kịp thời, thận dần xơ hóa và mất hoàn toàn chức năng (suy thận). Điều này khiến người bệnh buộc phải điều trị bằng cách chạy thận hoặc ghép thận. Thậm chí suy thận giai đoạn cuối còn có thể ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh.

Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh thận đái tháo đường bao gồm:

  • Hút thuốc lá
  • Tuổi: vì bệnh phổ biến hơn ở người cao tuổi
  • Giới tính : bệnh phổ biến hơn ở nam giới
  • Chủng tộc: bệnh phổ biến hơn ở người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Mexico
  • Béo phì

Triệu chứng và các giai đoạn phát triển của bệnh

 Triệu chứng: 

Thời gian đầu biến chứng thận của bệnh tiểu đường thường không có dấu hiệu nhận biết. Một số ít người bệnh có thể thấy mệt mỏi, huyết áp tăng hoặc bàn chân sưng nhẹ. Một số trường hợp phát hiện sau khi xét nghiệm albumin nước tiểu hoặc siêu âm bụng thấy thận to.

Giai đoạn cuối, bệnh thận do tiểu đường có thể gây ra các triệu chứng của bệnh tiểu đường như:

  • Nước tiểu sậm, sủi bọt như bia.
  • Huyết áp tăng cao : vừa là triệu chứng vừa là yếu tố thúc đẩy bệnh tiến triển nặng.
  • Tiểu đêm nhiều lần.
  • Ngứa, người mệt mỏi, da xanh xao.
  • Phù bàn chân, cẳng chân, phù mặt.
  • Hay bị tụt đường huyết, buồn nôn, chán ăn.
  • Vị kim loại trong miệng.

Lúc này, việc điều trị sẽ trở nên khó khăn hơn, người bệnh rất dễ bị suy thận.

Các giai đoạn phát triển cụ thể của bệnh:

Những nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy bệnh thận đái tháo đường đặc trưng có những bất thường về hình thái và chức năng rất sớm. Mogensen đã chia thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1:

Giai đoạn này đường huyết tăng cao, lượng máu đến thận tăng. Cầu thận phì đại nhưng cấu trúc của chúng thì bình thường.

Mức lọc cầu thận tăng, lưu lượng máu qua thận tăng theo song song, có thể tăng tiết albumin niệu. Tăng lọc cầu thận giảm sau vài tuần hoặc vài tháng điều trị bằng insulin, nhưng kích thước thận vẫn không thay đổi.

Giai đoạn 2:

Chưa có triệu chứng rõ trên lâm sàng. Bắt đầu có những thay đổi mô học ở cầu thận. Mức lọc cầu thận có thể gia tăng. Sự gia tăng này tương quan với kích thước thận và sự kiểm soát đái tháo đường. Sự tiết albumin qua nước tiểu bình thường nhưng có thể gia tăng trong những tình huống stress. Bề dày của màng đáy cầu thận tăng, chất nền gian mạch tăng nhiều hơn và những tổn thương này là không hồi phục.

Giai đoạn 3:

 Giai đoạn bệnh thận đái tháo đường khởi đầu. Tiểu albumin (dân gian thường gọi albumin là lòng trắng trứng). Đây là dấu chỉ điểm bệnh thận diễn tiến nặng hơn.Sự bài tiết albumin niệu tăng thường xuyên trong vài năm từ 10-200 μg/phút. Sự tăng lọc vẫn tồn tại nhưng nó bắt đầu giảm khi microalbumin niệu tăng. Chỉ số huyết áp thường tăng cao hơn so với người bình thường.

Giai đoạn 4:

Sơ đồ bệnh thận đái tháo đường ở thận trái

Bệnh thận rõ trên lâm sàng. Bệnh nhân sẽ tiểu đạm. Albumin trong nước tiểu 24 giờ lớn hơn 300mg. Chức năng lọc của thận bắt đầu suy giảm. Huyết áp bệnh nhân bắt đầu tăng. Giai đoạn bệnh thận đái tháo đường đã xác định. Hội chứng thận hư thường xuất hiện. Mức lọc cầu thận giảm trung bình 1ml/tháng. Điều trị tăng huyết áp hiệu quả có thể làm chậm sự tiến triển này.

Tổn thương cầu thận là đặc trưng: tồn tại xơ hoá cầu thận lan toả, gồm dày màng đáy tiến triển và tăng chất nền gian mạch. Khoảng 10-20% trường hợp tồn tại những nốt bắt màu bởi chất PAS (+) tích tụ ở gian mạch lân cận các cầu thận. Hiện tượng này gọi là xơ hoá cầu thận dạng nốt của Kimmelstiel và Wilson.

Giai đoạn 5:

Là giai đoạn suy thận giai đoạn cuối. Người bệnh phải lọc thận hoặc thay thận để duy trì cuộc sống.

Xem thêm : Bệnh lý võng mạc gây mù lòa ở người bị tiểu đường

Điều trị và biện pháp phòng ngừa bệnh thận đái tháo đường

Phương pháp điều trị

Điều trị ở giai đoạn đầu:

Giai đoạn đầu thường không có triệu chứng, người bệnh cần được kiểm tra sàng lọc các biến chứng thận hàng năm.

Mục đích chính của điều trị là duy trì và kiểm soát đường huyết và huyết áp. Đôi khi, có thể cần sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị khi suy thận mạn giai đoạn cuối:

Nếu bệnh thận đái tháo đường đã phát triển đến giai đoạn cuối và ESRD thì chỉ có hai biện pháp điều trị là lọc máu và ghép thận.Lọc máu:  là một thủ thuật trong đó các chất cặn bã được tách khỏi máu và loại bỏ ra khỏi cơ thể. Lọc máu hoạt động như một cách thay thế cho quả thận khỏe mạnh. Một người cần lọc máu thường sẽ phải điều trị trong suốt quãng đời còn lại hoặc cho đến khi được ghép thận.

Ghép Thận:  Bệnh nhân được đề nghị ghép thận nếu bệnh thận đái tháo đường đã đến giai đoạn cuối. Tuy nhiên, ghép thận cần có người cho thận, có thể mất một thời gian. Mọi người có thể sống sót với một quả thận đang hoạt động. Vì vậy người cho thận còn sống là lựa chọn cho một số người. Tuy nhiên, cơ thể nhận thận vẫn có thể từ chối cơ quan mới. Ghép thận từ một thành viên trong gia đình thường mang lại cơ hội chấp nhận quả thận ghép tốt nhất.

Phẫu thuật ghép thận được thực hiện dưới gây mê và mất khoảng 3 đến 4 giờ. Khoảng 20% thận ghép bị cơ thể của người nhận từ chối.

Phòng ngừa biến chứng suy thận do đái tháo đường

Thời gian từ khi có triệu chứng rõ rệt đến suy thận giai đoạn cuối rất ngắn (thường chỉ 5 – 10 năm). Vì vậy, việc phát hiện và phòng ngừa sớm bệnh thận đái tháo đường có vai trò rất quan trọng. Và người tiểu đường phải biết bệnh tiểu đường nên ăn gì và kiêng gì để có chế độ ăn uống phù hợp. 

Kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp

  • Giữ đường huyết ổn định trong giới hạn cho phép (dưới 7 mmol/l khi đói và dưới 10mmol/l sau ăn 2 giờ).
  • Giữ huyết áp ổn định ≤ 120/80mmHg.
  • Uống thuốc đầy đủ. Tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ. Tái khám ngay khi phát hiện các dấu hiệu bất thường.

Chế độ ăn uống khoa học

  • Hạn chế các thực phẩm giàu tinh bột  và nhiều đường 
  • Tăng cường rau xanh và trái cây ít ngọt.
  • Ăn nhạt. Cắt giảm các loại thức ăn chứa nhiều muối, các loại gia vị (nước mắm, nước tương, sốt BBQ)
  • Kiểm soát chất đạm trong thực đơn hàng ngày theo chỉ định của bác sĩ

Duy trì lối sống lành mạnh

  • Duy trì trọng lượng khỏe mạnh, tránh thừa cân
  • Hạn chế chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, cà phê
  • Tập luyện thể thao thường xuyên.

Sử dụng thảo dược hỗ trợ

Nguyên nhân gây ra bệnh thận đái tháo đường là quá trình oxy hóa gây tổn thương cầu thận. Nên sử dụng thêm những thảo dược có tác dụng chống oxy hóa, phòng xơ hóa thận.Đây cũng là một giải pháp hỗ trợ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa suy thận do biến chứng đái tháo đường.

>